Chương 7: Rời trường làng xuống trường xã và chút rung động vụng về lớp Ba

Tháng Mười năm ấy, những cơn gió heo may đầu mùa thổi lất phất làm những cụm rơm vàng óng rải dọc đường làng bay xáo xác.

Tuổi thơ tôi gạch một đường phân chia mốc thời gian rõ rệt khi hoàn tất những lớp vỡ lòng ở đầu cấp, ngôi trường làng quá ọp ẹp, nhường chỗ cho ngôi trường khang trang hơn ở trung tâm khuôn viên xã.

Lớp ba, lớp bốn, tôi chính thức đi bộ xa hơn, bỏ lại vạt rào xiêu vẹo cắm mảnh chai, bỏ lại gốc đa có lớp học mẫu giáo.

Nơi trường xã, sĩ số lớp đông hơn, những khuôn mặt từ các xóm lân cận đổ về tụ tập dưới mái ngói đỏ tươi mới tinh tươm.

Tại đây, thế giới rộn rạo của tôi được tiếp thêm vài tông màu mới.

Ngoài việc trở thành học sinh có mặt mũi luôn lọt vào tấm phông nằm chiễm chệ trong danh sách nhóm giỏi của lớp nhờ nét chữ nắn nót và sự rúc vào vỏ ốc để học bài trốn đánh bạn, tôi bắt đầu nhận lấy sự bừng nở le lói của một loại cảm xúc lạ lẫm, không rõ hình thù:

Tình yêu con nít.

Gọi là yêu thì hơi bậy gượng ép, nhưng cảm giác thích thích, nhớ nhớ nhung nhung của một thằng nhóc 8 tuổi 9 tuổi khi để ý bạn kề bên lại cực kỳ sống động và tinh khôi.

Hồi lớp 3, cô giáo xếp tôi vào bàn ba ở hàng dọc giữa, nơi

"phong thủy"

tốt cho những học sinh gương mẫu.

Đứa bạn được phân ngồi cùng bàn, sát rạt với tôi, là một bạn nữ tên Phương.

Khác với cái thân hình như cành tre còi cọc, da trắng môi đỏ và nhút nhát của tôi, Phương là một hình mẫu nữ sinh viên tròn trịa, nảy nở kiểu phú quý nếp nghèo.

Nhà Phương có điều kiện, bố làm cai thầu xây dựng nay chạy xe mộc, mai chạy xe sim-son lạch cạch.

Phương rất mũm mĩm, da dẻ trắng ngần nõn nà, nhìn phúng phính như một chiếc bánh bao sữa mới ra lò.

Chỉ có một khuyết điểm nhỏ khiến điểm nhan sắc của Phương bị trừ đi một nửa, đó là nguyên hàng tiền đạo của cô nàng sún đen sì, mài tận lên nướu răng đau đớn.

Lý do đơn giản là gia cảnh khá giả, Phương ăn quá nhiều kẹo mạch nha xóm ngoài và những ngày hạ cắn kem đá sột sột thay cơm, kết quả là nụ cười trẻ thơ trông giống ông già nhai trầu móm mém.

Dẫu cho hàm răng có xấu như thế nào, tôi vẫn không thể cưỡng lại thứ cảm giác bối rối, nóng ran ngượng ngùng mỗi khi đụng cùi chỏ chạm vào phần tay thịt phính mềm của Phương.

Có lúc đang hí hoáy viết vội bài toán chép lại lên bảng, mùi kẹo ổi vương vất ở làn tóc ngang vai của nhỏ bay xộc vào mũi làm tim tôi chệch nhịp.

Tôi bắt đầu thích thầm Phương.

Cái thứ tương tư vắt vai của đứa con nít lớp 3 nó thật tức cười.

Thích, nhưng không dám nói, chỉ bộc lộ qua việc dấm dúi nhường cho Phương quả ổi sẻ be bé giấu ở trong hộc bàn, hoặc cắn răng đẩy qua cho nhỏ cục gôm ngó dâu tay dính bụi than chì mỗi chiều kiểm tra thi viết.

Phương cũng tự nhiên thụ hưởng cái sự đặc ân ngầm ấy từ

"thằng An trắng bóc"

Nó hay nhờ tôi giảng lại mấy bài toán chia ba chữ số khó nhằn mà cái đầu chỉ lo ăn của nó không tiếp thu nổi.

Tôi thì tận hưởng cái cảm giác được Phương gục má sềnh sệch xuống bàn xoay mắt ếch ngước xem tôi múa cái bút máy chấm mực tím Tàu, miệng lẩm nhẩm rền rĩ giải thích.

Có những đêm nằm trên manh chiếu ngả lưng cạnh chiếc đài phát sóng rột rẹt của bố, tôi nghĩ đến cảnh ngày mai vào lớp được ngửi mùi kẹo của Phương, cái miệng tôi lại tủm tỉm cười một mình, dẫu nó vẫn chỉ là những ý nghĩ trống rỗng, vô tư và nhẹ bẫng.

Tôi cứ nghĩ ngày tháng sẽ trôi bình an tĩnh lặng như thế, lớp gạch men thanh xuân ngây dại kia sẽ mãi gắn liền cùng một hình hài tròn vo ở phía hàng ghế trái.

Thế nhưng, đời người thay đổi quá nhanh.

Kỳ nghỉ xuân vừa kết thúc, ngày tựu trường vào kỳ 2 lại phả vào mặt tôi một làn gió lạnh tê tái, theo đúng nghĩa đen lẫn bóng.

Buổi sáng sương giăng lặp lóa, tôi lạch cạch đi bộ hơn ba cây số tới trường, xách theo túi vải bạt, hăm hở ngồi sẵn trước cửa lớp.

Tuy nhiên, chỗ ngồi bên trái tôi trống không.

Năm phút, mười phút rồi tiếng trống trường gõ nhịp bùm bùm vang vọng, bóng dáng cái đuôi tóc ngang vai và mùi kẹo ổi quen thuộc của Phương vẫn bặt vô âm tín.

Thầy chủ nhiệm bước vào, cầm tờ danh sách, dùng chất giọng ráo hoảnh điểm lại sĩ số, đoạn thầy gạch cái rẹt bằng bút đỏ vào dòng kẻ nhợt màu mực tím và dõng dạc nói với cả lớp:

"Bạn Phương gia đình có điều kiện, bố chuyển lên thủ đô nhận thầu lớn nên đã cắt hộ khẩu.

Bắt đầu từ học kỳ này, bạn Phương chuyển thẳng ra một trường ở Hà Nội học.

Bạn nào còn mượn vở hoặc đồ dùng của bạn Phương thì xem như xong, không trả được nữa!"

Cả lớp lao xao mấy giây rồi rào vỡ lại im lìm.

Còn tôi, cảm giác lúc ấy như có một cú búa đập cái rụp vào lồng ngực gầy guộc.

Thế giới dường như tối sầm xuống một góc, tim tụt cái thịch rơi sõng soài lăn lóc dưới chân bàn xước dằm.

Cô láng giềng bàn kế bên biến mất một cách lãng xẹt:

không một tiếng chào, không một cái liếc nhìn trìu mến cuối ngày, chẳng có dịp rảo dăm ba câu bẽn lẽn chia ly dưới tán cây phượng rụng lợp màu xanh non.

Tôi đứng chôn chân, đôi bàn tay gầy gò túm chặt nắp cặp xếp ở hộc bàn, cố kìm lại thứ hơi nước ươn ướt chực trào trên hốc mắt.

Tôi hụt hẫng nhạt nhòa.

Mấy ngày liền đi học về tôi không nói tiếng nào với mẹ, lầm rầm nhai dăm miếng cơm lạo xạo rồi nằm khoanh tròn cắn ngón tay cái.

Chỗ ngồi trống không được lấp vào một cậu nam khác.

Thỉnh thoảng vô ý, tôi lại liếc ánh mắt đờ đẫn sang góc trái, nơi đáng lẽ là hàm răng sún đen thui và nụ cười rưng rức mùi hương đường mật, giờ thay bằng mấy vệt mực loang ố bẩn mốc cẩu thả.

Tôi buồn như một cành cỏ úa rụng giữa cơn giông.

Nhưng rồi, thứ phản ứng kì lạ của một tâm hồn dễ nguội lạnh lại hoạt động.

Tôi chợt nhận ra việc ghim một người vào nỗi nhớ vô hình thật thừa thãi.

Phương đã đi lên Hà Nội hoa lệ, còn tôi cứ ngồi chờ một người sẽ chẳng bao giờ ngó ngàng lại làng quê mịt mờ bùn đất này, sao mà ngốc nghếch thế.

Giống hệt như cách tôi văng quả táo chua loét cắn dở bên rãnh mương, tôi quyết định tự xóa đi phần lấp lánh nhỏ xíu dành cho cô bé.

Tôi chẳng màng gặng hỏi tung tích số nhà Phương với đám bạn trong xóm, tôi vùi dập luôn chút xúc cảm con nít để tâm hồn trở lại trạng thái vô niệm.

Phương đi đã rảo buớc đi.

Quang An cũng chẳng cần nắm giữ lại chi cho ồn ào vướng bận lòng tơ.

Lên lớp 4, mọi thứ nhạt thếch lại đi vào quỹ đạo quen thuộc.

Tôi vẫn giữ phong độ học thuật trong nhóm người ưu tú của lớp, sống cách ly với những màn trêu chọc bạo loạn vì đã chán cái vòng vo võ biền của hội lỳ lợm.

Năm ấy, định mệnh (hay đúng hơn là ông thầy chủ nhiệm)

lại mang cho tôi một cô học trò khác xếp vào ghế đôi ngồi cạnh, tên Hằng.

Hằng thì trái ngược hoàn toàn với Phương mập.

Hằng gầy còm, da ngăm đen khô khốc vì đội nắng trên đình buôn bán vặt với bà mẹ xắt tép.

Nó không đẹp, cũng chẳng dịu dàng.

Đặc biệt, nó học khá dốt Toán, nhưng bù lại, nó hung dữ, cục súc và vô cùng cá tính với mái tóc mỏng xõa túm cột cao nhường nhịn sự ngang tàng.

Lại như một vòng luẩn quẩn quấn lấy cái tuổi ẩm ương dậy sóng sớm, nhìn ánh mắt láo lỉnh và cái cách Hằng mạnh mẽ chửi rủa mấy thằng con trai mượn thước không trả khác hẳn sự yếu mềm của bản thân, tự dưng lòng tôi cũng thấy vui vui.

Tôi lại thấy thích Hằng.

Nhưng khác với cách lẳng lặng ngắm từ xa thuở Phương móm, ở lớp 4, với chút chai dạn đã được bồi đè sau nhiều năm, tôi bắt đầu dùng những trò trêu chọc vụng dại để thu hút sự chú ý.

Giam bút, úp gôm, vạch bút vạch bàn ngăn đôi chia lãnh thổ hoặc lấy chân khều vào dưới hộc bàn nó.

Thế nhưng, Hằng có vẻ ghét ra mặt cái vẻ điệu đà tẻ nhạt của tôi.

Cứ mỗi lần trêu đùa, thay vì gục đầu mỉm cười dịu êm nhẹ nhàng e thẹn, nó xắn tay áo đánh bộp một nhát tứa đỏ vào cánh tay tôi, gầm gừ đay nghiến:

"An Pê đê rảnh rỗi vừa phải thôi, bà vứt vở bây giờ"

Chỉ như thế thôi, sự chống trả mãnh liệt của cô bé da ngăm làm chùn bước sự hào hứng trẻ con, và tình cảm ấy, y như cánh xuyến chi ngoài đồng vắng, chưa kịp nở hoa thì đã lại tàn lụi khô héo dưới ánh nắng bỏng gắt của những ngày vô niệm rải đều.

(Còn nữa)

Bình luận


Không có bình luận.

Cấu hình

Báo cáo

Bình luận

Đang tải...

Bạn cần đăng nhập để bình luận.

Đăng nhập