Trải qua mấy phen đại hội chế hiến tranh luận kịch liệt, hiến pháp hy lạp rốt cuộc cũng xuất thế.
Hạch tâm xác lập chế độ nhị nguyên quân chủ.
Điều khoản như sau.
Chương I:
Quốc thể và nguồn gốc quyền lực
Tính chất quốc gia:
hy lạp là thế tập quân chủ lập hiến, thi hành đơn nhất chế, cho phép một số địa phương tự trị hữu hạn (như khu đảo)
Quyền lực tượng trưng:
quốc vương là người bảo hộ chính thống giáo, nguyên thủ quốc gia, tổng tư lệnh tối cao của quân đội.
Vương quyền đến từ “thiên mệnh cùng dân ý”.
Sứ mệnh lãnh thổ:
hiến pháp xác lập mục tiêu “thu hồi cương vực lịch sử” — tức đại lý tưởng, lấy khu vực người hy lạp tụ cư làm trung tâm.
Toàn thể công dân có nghĩa vụ vì đó mà phấn đấu.
Chương II:
Quân chủ đặc quyền
Quyền hành chính:
quốc vương bổ nhiệm thủ tướng, nội các đại thần cùng tổng đốc các tỉnh.
Tất cả quan viên chỉ tuyên thệ trung thành với quốc vương.
Quốc vương có quyền phê chuẩn pháp luật, ký kết điều ước, tuyên chiến hòa đàm.
Hình thức sẽ trưng cầu ý kiến mật viện, nhưng quyết định cuối cùng vẫn do quốc vương định đoạt.
Quyền quân sự:
quân đội trực tiếp hiệu trung với quốc vương.
Nghị viện không được can thiệp hệ thống quân lệnh cùng bổ nhiệm nhân sự.
Quốc vương có thể tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn quốc hoặc cục bộ, tạm đình chỉ một phần điều khoản hiến pháp.
Quyền can dự nghị viện:
quốc vương có thể giải tán nghị viện bất cứ lúc nào, phủ quyết mọi dự án đã thông qua, chỉ định một nửa nghị viên thượng viện.
Chương III:
Cơ cấu nghị viện
Chế độ lưỡng viện.
Thượng viện (quý tộc viện)
50% nghị viên do quốc vương trực tiếp bổ nhiệm, 40% do tuyển cử sinh ra, 10% do tướng lĩnh cao cấp đã giải ngũ kiêm nhiệm.
Quốc vương nắm quyền phủ quyết tối hậu với mọi pháp án, có thể trả lại đề án sửa đổi.
Hạ viện (dân tuyển viện)
do nam công dân căn cứ tài sản điều kiện mà tuyển cử.
Mọi lập pháp phải thông qua thượng viện cùng quốc vương phê chuẩn mới có hiệu lực.
Hạ viện chỉ giữ quyền sơ thẩm ngân sách.
Quốc vương có thể dùng “quốc gia khẩn cấp đặc lệnh” để vượt qua quy trình này.
Quy chế tuyển cử:
mở rộng quyền bầu cử tới toàn thể nam công dân trưởng thành, chấm dứt độc quyền của cựu quý tộc, đề xướng tinh thần dân tộc hy lạp.
Chương IV:
Chính phủ và tư pháp
Thủ tướng và nội các:
thủ tướng do quốc vương trực tiếp bổ nhiệm.
Nội các do thủ tướng đề cử, quốc vương chuẩn y.
Nội các chỉ phụ trách chấp hành ý chí quốc vương.
Nghị viện không có quyền đàn hặc hay chất vấn nội các.
Tư pháp phụ thuộc:
đại pháp quan tối cao do quốc vương đề danh, thượng viện biểu quyết đồng ý mới nhậm chức.
Hệ thống tư pháp không được thẩm lý án kiện liên quan đến việc thi hành vương quyền.
Phán quyết cuối cùng, quốc vương có quyền phục hạch.
Chương V:
Quyền lợi và nghĩa vụ công dân
Quyền lợi hữu hạn:
công dân có quyền ngôn luận, tụ hội, nhưng phải được chính quyền địa phương phê chuẩn trước.
Chính thống giáo là quốc giáo, việc truyền bá công khai tín ngưỡng khác bị hạn chế nghiêm ngặt.
Nghĩa vụ cốt lõi:
toàn thể nam công dân trưởng thành phải phục dịch quân ngũ ba năm, kẻ đến tuổi không được trốn tránh.
Giai tầng thương nhân phải nộp thuế mậu dịch đặc biệt, nguồn thu ưu tiên dùng cho hải quân xây dựng và khuếch trương.
Chương VI:
Điều khoản đặc biệt
Kế thừa vương vị:
thi hành nam tính ưu tiên thế tập chế.
Nếu không có nam tự, nữ tử có thể kế vị, nhưng cần hai phần ba thượng viện ủng hộ.
Quyền đình chỉ hiến pháp:
khi quốc gia đối mặt ngoại địch xâm nhập hoặc nội loạn, quốc vương có thể tuyên bố đình chỉ toàn bộ hay một phần hiến pháp, lấy chiếu lệnh trực tiếp trị quốc, cho đến khi nguy cơ tiêu trừ.
———
Đối với bộ hiến pháp này, thủ tướng karilaos kịch liệt phản đối.
Y cho rằng, văn kiện này căn bản không phản ánh lý tưởng dân chủ mà Y theo đuổi.
Từ sau khi quốc vương tái tổ phục hưng ủy ban, thành lập thanh niên đảng, mọi thảo luận trong ủy ban đã hóa thành nhất ngôn đường của quốc vương.
Nghị hội trị quốc chỉ còn cái giá rỗng, thực quyền toàn bộ rơi vào tay constantine.
Cái gọi là nội các, trong mắt Y, bất quá là thư ký đoàn riêng của quốc vương.
Quốc vương nắm quyền tuyệt đối, đám “dân chủ sĩ” như Y căn bản không chen chân nổi.
Hình thức này, khác xa chế độ nội các chịu trách nhiệm kiểu anh quốc mà Y từng mơ tưởng.
Quyền bầu cử mở rộng, càng khiến thế lực tự do đảng suy giảm.
Phải biết, trụ cột của họ là tư bản gia cùng phần tử dân chủ thành thị.
Nếu tiếp tục theo chế độ tài sản như cũ, những người nắm giữ của cải hy lạp sẽ khống chế trung枢.
Nhưng nay quyền bầu cử trao cho toàn thể nam công dân, bề ngoài là dân chủ, thực tế lại giúp thanh niên đảng thu hoạch lượng lớn phiếu bầu.
Đám thanh niên nhiệt huyết kia nào quan tâm học thuyết gì.
Họ chỉ nhìn xem chính quyền có thỏa mãn tình cảm dân tộc của mình hay không, có tăng thu nhập cho mình hay không.
Ngoài ra, đều là hư ngôn.
Thanh niên đảng chủ trương phân ruộng, đối ngoại cứng rắn, dễ dàng hấp dẫn tiểu thị dân cùng nông dân.
Số phiếu tăng thêm kia, mười phần tám chín sẽ nhập vào kho phiếu của họ.
Y từng thử tìm kiếm sự ủng hộ từ anh quốc.
Dù sao Y vốn được chính phủ anh phái tới.
Nhưng mọi thỉnh cầu đều bị lấy cớ “không tiện can thiệp nội chính hy lạp” mà cự tuyệt.
Không tiện can thiệp?
Vậy constantine là thế nào đăng cơ?
Người anh quốc khi nào lại tôn trọng chủ quyền nước khác như vậy?
Y nhìn thấu.
Chính phủ anh không muốn vì vấn đề này mà xung đột với constantine.
Vai trò của Y, chẳng qua là một kẻ giám sát, phòng ngừa constantine nghiêng về thế lực khác, làm suy yếu ảnh hưởng của anh tại balkans.
Nghĩ đến đây, trong lòng karilaos dâng lên cảm giác bất lực sâu nặng.
“Quốc gia của ta… rốt cuộc sẽ đi về đâu…”
Thanh âm ấy như tiếng thở dài lặng lẽ tan vào không khí.
Mà lúc này, constantine đang ngồi trong thư phòng vương cung.
Trên bàn, một cuốn sổ tay mở rộng.
Trên đó ghi chép bằng loại văn tự phương đông thần bí, là kế hoạch mười năm phát triển của hy lạp.
Trong nhận định của hắn, phương hướng trước mắt phải đặt nền móng cho phát triển văn hóa, chuẩn bị cho lần công nghiệp cách mạng tiếp theo.
Giản hóa hy lạp ngữ, là bước đầu tiên.
Cũng là bước cấp bách nhất.
Quốc gia này trên danh nghĩa kế thừa vinh quang cổ đại, từng được tôn xưng là minh châu văn minh châu âu.
Nhưng ba trăm năm thống trị của ottoman khiến văn hóa đình trệ, thậm chí thoái lui.
Năm xưa, byron ôm nhiệt huyết đến đây ủng hộ độc lập, từng hy vọng tìm lại ánh huy hoàng.
Kết quả chỉ thấy hoang tàn và lạc hậu, cuối cùng ôm thất vọng mà rời đi.
Ngày nay, hy lạp ngữ hỗn tạp khó phân, văn phạm rối ren.
Đầy rẫy cổ ngữ đã thoát ly đời sống thực tế, tối nghĩa khó hiểu.
Dân gian tuy có bản giản hóa, nhưng mỗi nơi một kiểu, chưa từng hình thành chuẩn thống nhất.
Người các vùng giao lưu thường phát sinh trở ngại.
Huống hồ dùng nó phổ cập tri thức, thúc đẩy phát triển.
Cho nên, nhất định phải khiến ngôn ngữ trở nên giản minh, quy phạm.
Chỉ có như vậy, mới có thể nhanh chóng nâng cao tỷ lệ biết chữ của dân chúng, đồng hóa các tộc quần khác, đặt nền móng cho hy lạp quật khởi.
Hủy
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.
Không có bình luận.
Đang tải...
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Ghi nhớ đăng nhập